Tiếng Anh lớp 9 i-learn smart world | Unit 1. English in the world

Tài nguyên thư viện

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Bài hát: Bài ca thư viện

    Ảnh ngẫu nhiên

    120123840_694530971167985_5708608040569229894_o.jpg Bandohanam.jpg Z3744452152094674904e47dc3e2de4697754555e167f316641877673511211900903.jpg

    💕💕 NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG BẠN ĐỌC ĐẾN THĂM THƯ VIỆN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THANH HÀ - THANH LIÊM - HÀ NAM💕💕

    Chuyện kể về Bác nhân ngày sinh nhật

    Chào mừng quý vị đến với website của ...

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Khách Nợ

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng Thảo
    Ngày gửi: 13h:46' 18-01-2025
    Dung lượng: 1.4 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    “KHÁCH NỢ”
    Được xuất bản theo hợp đồng trao quyền sử dụng tác phẩm
    giữa đại diện gia đình tác giả và Công ty TNHH Sách Phương Nam.
    Mọi sao chép, trích dẫn phải có sự đồng ý của
    Công ty TNHH Sách Phương Nam.

    Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
    Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach

    ... Sừng sững một tòa ngôn ngữ chân chất,
    tinh diệu…
    (Thay lời giới thiệu)
    Trong tập tùy bút Thăm thẳm bóng người của Đỗ Chu, Nguyễn Tuân, Tô Hoài được tác
    giả giới thiệu bằng cảm hứng và lời văn trác tuyệt. Trong thăm thẳm bóng người có bóng
    ta. Có thăm thẳm bóng Nguyễn Tuân trong những kiệt tác ông để lại cho đời. Tô Hoài còn
    đấy, “ đứng chống đòn gánh, dưới chân là hai quang sách nặng ”, bóng của hàng triệu độc
    giả hòa vào bóng Tô Hoài trong những tác phẩm bất hủ của ông. Trước “cốt kiêu” và uy bút
    lực của hai ông, Đỗ Chu - lần đầu tiên tôi thấy - ... đứng khép nép.
    Tôi đã có lần khép nép trước một tác phẩm của Tô Hoài, đó là Chuyện đầm sen Đền
    Đồng Cổ in trong tập truyện ngắn này. Sau Giăng thề, đây là kiệt tác thứ hai của Tô Hoài. (
    Dế mèn phiêu lưu ký đương nhiên là một tác phẩm bất hủ, nhưng ý tôi nên xếp sang một
    chiếu khác). Trong Chuyện đầm sen Đền Đồng Cổ, hơi thở hùng tráng của lịch sử vừa kín
    đáo, vừa mãnh liệt chạm vào tình cảm sâu lắng nhất của bất kỳ độc giả người Việt nào. Ta
    gặp lại đam mê của Tô Hoài quan sát những lễ tục dân gian và sự am hiểu tinh tường những
    tập quán ngành nghề, sinh hoạt mà tác giả miêu tả.
    Cảnh đám rước kiệu “bà” quay tròn:
    “ Kiệu bát cống quay tròn, bây giờ mới thật như chiếc hoa giữa đám hội, vừa bay vừa
    cong cánh nở. Lòng hân hoan mong đợi của cả ngàn người xem hội cứ thế bồng bột mãi
    lên. Hai mươi bốn trai kiệu, nghe tiếng trống khẩu, một lượt quỳ như hai mươi bốn thớt
    voi rồi từ từ bò qua gò, vai kiệu vẫn phẳng lừ như tường đứng. ” (tr. 146)
    Mùa vụ cây dó (làm bột giấy):
    “ Cạn kỳ dó chính tuyết, vừa cuối thu. Lần sang vụ dó Một Chạp đến tháng Giêng là
    “đầu giao”. Một Chạp hay “đầu giao”, áo dó mới lột, quệt sương hay mưa đều ố nước, mất
    công phơi nhiều nắng mới bó được. Nhưng vừa xong cái vất vả rừng này lại phải lặn lội
    sang rừng khác, đã vào vụ dó chiêm. Dó chiêm tiếp dó đuôi tháng, quanh lại vừa trở lại
    chính tuyết. ” (tr. 163)

    Đúng là Tô Hoài. Chỉ có thể là Tô Hoài.
    Nhưng cái mà tôi kính nể là đọc tác phẩm này tôi như đứng trước sừng sững một tòa
    ngôn ngữ chân chất và tinh diệu. “Trong ngọc” nhất trong tòa ngôn ngữ này là những câu
    văn thuộc loại “văn xuôi thơ” sáng giá của văn chương Việt Nam hiện đại. Đây là những câu
    văn tả tình cảnh một người con gái ngồi trên thuyền ngược sông đi lấy chồng giầu mạn
    ngược:
    “Những lời hò vui mà thảm thiết:
    Ra khoang… em bước… qua cầu…
    Bến vui em đến…
    Trên mui bỗng lóng lánh một trời sao. Con thuyền đêm nao cũng đi qua một trời sao
    ấy. Dù cho con người có cạn nước mắt rồi cũng muốn hy vọng, như người chèo thuyền
    mong đến bến…
    Một đêm, Hạ ra khoang sau. Hạ ngồi một lúc thật lâu. Bốn bề lặng ngắt. Những ngôi
    sao long lanh nhỏ lã chã những giọt nước mắt xuống thế gian…” (tr. 162)
    Một lần Hội nghị nhà văn trẻ, nghe giới thiệu nhà văn Tô Hoài lên phát biểu ý kiến, cả
    hội trường im phăng phắc. Trái với sự chờ đợi của mọi người, nhà văn lão thành lên diễn
    đàn chỉ để nói với các nhà văn trẻ một câu: “… chừng nào chưa phân biệt được “ mồm ” và
    “ miệng ” thì đừng có cầm bút… ”. Tôi thiết nghĩ các bạn trẻ háo hức viết văn nên tìm đọc
    Chuyện đầm sen Đền Đồng Cổ , đọc xong mà nhận ra được vốn ngôn từ của mình sao mà
    nó nghèo nàn, thảm hại, xô bồ đến thế thì dù có tiến hay thoái cũng là một sự thức nhận
    hết sức có ích.
    Thăm thẳm bóng người trong tập truyện ngắn này:
    Bóng cô Cúc, “một sinh viên người Huế đẹp tuyệt trần” được nhà văn Tô Hoài trao cho
    bản thảo cuốn tiểu thuyết Đêm mưa “ một chiều đông rét mướt” năm 1946 và tòa nhà lưu
    niệm “tiêu điều, ảm đạm” của bà Điềm (cô Cúc năm xưa, nay đã trở thành nhà điêu khắc
    nổi tiếng Điềm Phùng Thị),... “trong những tủ kính trang nhã, phủ bụi mấy bức khắc tự
    họa của nhà điêu khắc”. (Hồi ký Tiểu thuyết đêm mưa)
    Một người đàn bà “cả đời chỉ đi bói chèo ước mong tái hợp” vì chồng đi “đất đỏ Sài

    Goòng” mãi không trở về. ( Cô đào Thương)
    Bà Tứ dở điên dở dại lúc hấp hối phải gặp được người tình năm xưa mới yên tâm nhắm
    mắt. ( Tình buồn)
    Có một loạt truyện giúp độc giả hình dung được đầy đủ hơn trí tưởng tượng kỳ thú và
    hóm hỉnh của tác giả Dế mèn phiêu lưu ký : Đôi ri đá, Con gà trống ri, Truyện gã chuột
    bạch, Một cuộc bể dâu, Mụ ngan…
    Trong những truyện về các dân tộc miền núi mà tiêu biểu là truyện Vợ chồng A Phủ,
    còn gì giản dị và sâu sắc hơn tinh thần cứu đất cứu mường nảy sinh trong tâm khảm và gắn
    với cuộc đời của các nhân vật.
    “ …Nhấn nhớ lại cả cái đời thảm của mẹ và của mình. Nhấn muốn khóc.
    Giữa khi ấy thì tiếng chim kỳ lanh lảnh như tiếng kèn giục phường săn. Nhấn không
    khóc được. Nhưng từ đấy, trong đời chiến đấu của người bộ đội, mỗi khi nghe trên cánh
    rừng, đầu rừng nào có tiếng chim kỳ kêu, Nhấn tưởng hồn mẹ và hồn em đi đâu cũng
    đuổi theo Nhấn .” ( Cứu đất cứu mường)
    Tập Chuyện để quên có những truyện rất “quý”, làm sống lại không khí hồ hởi hồn
    nhiên của những năm đầu kháng chiến, những đoàn dân công, bộ đội, cán bộ đi công tác…
    Truyện - ký Khiêng máy là một tác phẩm xuất sắc. Tiêu biểu là cảnh đám công nhân
    nhà in báo “ Cứu quốc Việt Bắc” khiêng máy nghỉ lại ở lán.
    “…Cứ tối đến, các lán sàn trên, sàn dưới, hai tầng ghép lại bằng ống vầu tươi, người
    nằm người ngồi ngổn ngang. Một ngày cật lực khiêng máy, vác giấy, tải gạo, tải muối…
    Tưởng như mỗi khi ngả lưng xuống thì thiếp đi đến chết. Tiếng moóc-chi-ê ình oàng vào
    sương đêm, không biết từ phía nào. Nhưng chẳng ai có thể chợp mắt. Từ chập tối đến
    khuya, người nằm cứ rào rào kháo đủ các thứ chuyện. Chẳng chuyện nào vào chuyện
    nào, nhưng thú vị, hả hê. Họ đố nhau ăn uống cái gì ngon nhất, rồi lấy quần áo ra đổi
    chác. Quanh quẩn chỉ vài cái cứ đổi đi đổi lại lẫn lộn, như bọn đánh bạc. Lúc thì ồn ào như
    đương chè chén ở hiệu cao lâu. Lúc thì tranh nhau giá cả, bớt xén như ở nhà cầm đồ Vạn
    Bảo. Lúc lại bắt chước vợ chồng ỏn ẻn, nũng nịu. Rồi hát tuồng, gẩy đàn mồm, mãi khuya
    mới ngớt “cuộc vui”...” (Khiêng máy)
    Có những truyện nói về cuộc sống cơ cực của người dân trong vùng bị chiếm đóng.

    “Hờn khoác thừng kéo cày vào người, lúc đổi vai, lúc thắt ngang bụng. Cái cánh tay
    cụt giơ lên, cóng rét, bị nếp thừng kéo thít xuống. Có hôm chỗ đau lại bật máu ra, chảy
    thấm xuống tận nách áo. Nhưng Hờn vẫn cắn răng, lội. Hờn chỉ còn sức dựa vào cái
    thừng, lạch đi. Trên cánh đồng này biết bao nhiêu người bì bõm cầy bừa, cấy hái quanh
    năm như thế, cho đến lúc phía tỉnh gầm gừ tiếng xe, trời tảng sáng, các đồn bốt dọc đường
    sắp xua nhà phạt và lính tráng vác gậy đi dò mìn, thì những người làm đồng kiệt sức mới
    lục đục về làng.” (Người mất trí)
    Trong một thời gian khá dài (hơn bốn năm), tôi tham gia làm đề tài nghiên cứu khoa
    học do anh Tô Hoài chủ trì. Thời gian đầu, một tháng họp một lần. Công việc tiến triển hơi
    chậm, anh Tô Hoài quyết định một tuần họp một lần. Tôi nghĩ bụng đến tuần thứ ba không
    biết còn chuyện gì để mà bàn, có khi phải hai, ba chầu bia mới hết buổi. Nhưng không phải
    như vậy. Tô Hoài là một kho chuyện vô tận, có khi một nghìn lẻ một buổi họp vẫn chưa hết
    chuyện, không riêng gì chuyện văn hóa, văn nghệ, hình như chuyện gì anh cũng biết,
    chuyện nào anh cũng nhớ vài ba chi tiết đặc sắc, rất quan trọng. Không riêng gì những thời
    kỳ gần đây, mà những chuyện thời Tự lực văn đoàn và Thơ mới, thời Đề cương văn hóa và
    Văn hóa cứu quốc, những năm đầu kháng chiến... anh Tô Hoài vẫn nhớ và nhớ tường tận.
    Những chuyện anh hồi tưởng và kể lại bao giờ cũng hấp dẫn. Anh rất quan tâm đến sự
    chính xác: tên người, địa danh, niên đại, những sự kiện lịch sử và những chi tiết của đời
    sống thực tại. Tô Hoài hay nhận xét về những chỗ sai, không chính xác trong các bài báo,
    bài văn và công trình nghiên cứu anh đọc nhưng tôi chưa thấy ai nêu những điều không
    chính xác trong những trang viết của anh. Duy có một lần Nguyễn Nguyên, một ký giả lão
    thành ở Sài Goòng nói với tôi: “Trong bút ký, hồi ký của Tô Hoài có những chi tiết thần
    tình, phải là một người sành ăn thì miếng thịt chó ngon mới gọi là “đặm và phải chăng cái
    miếng thịt”. Chỉ tiếc là trong một bài viết về “xóc đĩa” đăng trên Kiến thức ngày nay hồi
    năm trước có những chi tiết sai, tôi có cảm tưởng là Tô Hoài chưa từng bước chân vào sòng
    xóc đĩa.”
    Nghe anh Tô Hoài hồi ức về “những năm tháng, con người và cuộc đời”, tôi hình dung
    một lịch sử văn hóa, văn nghệ khác, không giống như những điều được trình bày trong
    những bộ sử đã công bố, nó phong phú hơn, sống động hơn, chứa chất kịch tính, xem ra
    thảm hơn, mà cũng lớn lao hơn. Cuối cùng thì tôi thông, họp tuần một lần không phải là
    nhiều vì đề tài nghiên cứu của chúng tôi có liên quan mật thiết đến lịch sử văn hóa. Những
    chuyện anh Tô Hoài hồi tưởng và kể lại thiên về giải ảo hơn là ảo hóa những người thật,
    việc thật. Cách nhìn giải ảo thường là một nhân tố tiến bộ trong văn hóa, nhất là khi người

    giải ảo có ý thức đặt sự thật cao hơn những ước lệ và cấm kỵ. Tô Hoài quá hiểu lịch sử và
    lịch sử xem ra cũng nể ngòi bút hồi ký của ông. Tô Hoài không chỉ là một nhà tiểu thuyết
    phong tục có hạng, tác giả Cát bụi chân ai còn là một tác gia hồi ký bậc thày, vả chăng
    những truyện hay của Tô Hoài thường là mang tính chất hồi ký: Giăng thề (1943), Mười
    năm (1957 ), Tự truyện (1978), Ba người khác ... Anh Tô Hoài không thích nói chuyện
    sách vở nhưng khi nói chuyện đụng đến những công trình nghiên cứu thì thấy anh có đọc
    và đọc khá nhiều. Tôi vẫn cho rằng khổ công đọc sách là một biểu hiện đáng tin cậy của sự
    khiêm tốn, có thể giả vờ khiêm tốn trong ứng xử nhưng đọc sách thì không giả vờ được.
    Trong một chuyến thày trò trường viết văn Nguyễn Du hành hương về Tiên Điền, Nghi
    Xuân thăm quê hương đại thi hào có nhà văn Tô Hoài, chủ tịch đầu tiên và cuối cùng Hội
    đồng giáo dục Trường Nguyễn Du cùng đi. Trong buổi lễ viếng mộ, mọi người nín lặng khi
    nhà văn Tô Hoài bước ra đứng trước mộ. Ông thắp nhang, rưới rượu lên mồ rồi ông rót
    rượu vào cái chén ông cầm trên tay và uống cạn chén rượu trước mộ Nguyễn Du và trước
    mặt mọi người. Tôi nghe tiếng mấy sinh viên viết văn thì thào: “Tô Hoài tranh thủ uống
    rượu”, “Tô Hoài cũng ngang đấy chứ”... Tôi nghĩ đến hai câu thơ chữ Hán trong bài thơ Đối
    tửu của Nguyễn Du:
    Sinh tiền bất tận tam bôi tửu
    Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi.
    Diễn nghĩa:
    Lúc sống không uống cạn hồ rượu
    Chết rồi ai rưới ruợu trên mồ cho?
    Làm đề tài nghiên cứu khoa học, về bất kỳ vấn đề nào anh Tô Hoài cũng có chủ kiến
    riêng. Về vấn đề tranh luận: làm thơ bằng ý hay bằng chữ ? Ý kiến của Tô Hoài: làm thơ
    bằng chữ nhưng vấn đề là người làm thơ sống những chữ của mình như thế nào? Tôi thấy
    nói như vậy cũng là rõ và đủ. Đề tài của chúng tôi được phân thành nhiều vấn đề. Giải quyết
    mỗi vấn đề, trong nhóm đề tài (có Ngọc Trai, Vương Trí Nhàn và tôi) mỗi người viết bài,
    sau đó anh Tô Hoài tổng kết. Tôi nghiệm thấy trong bài tổng kết, anh Tô Hoài hầu như chỉ
    trình bày những chủ kiến riêng của anh. Mặt khác, anh Tô Hoài không bao giờ có ý định
    đưa ra những ý kiến hướng dẫn, dù là dưới hình thức góp ý, gợi ý nhẹ nhàng. Riêng tôi thấy
    cách làm việc như vậy hết sức dễ chịu. Có một buổi sinh hoạt nhóm tôi trình bày những ý
    kiến của tôi về văn hóa làng. Sang buổi sau anh Tô Hoài đưa tôi cuốn sách của Nguyễn

    Hồng Phong về Công xã nông thôn và hỏi: “Hiến đã đọc cuốn này chưa?”. Quả nhiên tôi
    chưa đọc cuốn này và đây là một tài liệu quý đối với đề tài của tôi, không có nó nội dung bài
    viết của tôi sẽ kém phần “chắc thiệt” nhiều. Trên đời có một loại ân nhân rất đáng quý
    nhưng lại ít được chú ý, đó là những người biết ta đương cần đọc cuốn sách gì và đưa cho ta
    một cách hồn nhiên đúng cuốn sách ấy. Trong các bạn đồng nghiệp ở trong nước, loại ân
    nhân này rất hiếm. Trong những bạn đồng nghiệp Pháp, Mỹ và Việt kiều dễ gặp hơn những
    người sẵn sàng chia sẻ sách và tư liệu với mình. Không có những cuốn sách mà Dan Duffy,
    Neil Jameison, François Jullien, Nguyễn Bá Chung (Mỹ), Nguyễn Ngọc Giao (Pháp)... cho
    tôi, những công trình biên khảo của tôi sẽ khó khăn hơn rất nhiều.
    Những ý kiến riêng của anh Tô Hoài đôi khi rất bất ngờ. Trong một cuộc hội thảo, có
    một diễn giả nói rất mạnh về sự thiếu khiêm tốn trong giới trí thức. Đây là một định kiến
    phổ biến và tôi cũng nghĩ như vậy. Giờ nghỉ, anh Tô Hoài nói với tôi: “Lạ thật, cứ nói đến
    trí thức là nhấn mạnh vào bệnh không khiêm tốn, tất cả những người trí thức tôi biết đều
    hết sức khiêm tốn, không khiêm tốn làm sao có trí thức được?” Tôi thấy anh Tô Hoài có lý.
    Thiện cảm và ác cảm ở anh Tô Hoài cũng rất riêng. Có một người bạn văn anh Tô Hoài
    quen đã hơn bốn chục năm nhưng chưa lần nào anh đến chơi nhà, anh giải thích: “Giả dụ
    hôm nay tôi mời ông ấy ăn phở, y như rằng ngày hôm sau ông ta mời bằng được trả lại
    ngay, những người như vậy tôi thấy rất khó giao thiệp”.
    Hoàng Ngọc Hiến

    Nhà nghèo
    Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
    Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
    Họ thường cãi nhau vì những cớ rất nhỏ, không có nghĩa. Cái đó cũng đã thành một
    thói quen. Lúc nào ngứa miệng, muốn to tiếng là to tiếng liền. Hàng xóm bốn bên bị nghe
    chán cả tai, không buồn nghe nữa.
    Cũng như thế. Hôm nay hai vợ chồng anh Duyện lại cãi nhau ầm lên. Đầu tiên, có gì
    đâu. Khốn nạn, câu chuyện rắc rối chỉ chớm như thế này:
    Anh Duyện thì nằm trong nhà, ghếch hai chân lên cột, ư ử mấy câu Kiều lẩy: “ Trăm
    năm trong cõi người ta. Chữ tài chữ mệnh mấy là ghét nhau ”. Anh ngâm đương có hứng.
    Cái cột nhà rung lạch bạch với hai bàn chân. Chị Duyện ngồi đụp áo ngoài sân. Bỗng nhiên,
    không hiểu có việc gì, chị muốn tìm cái Gái. Trông ngoài đầu ngõ không có. Chị gọi:
    - Gái ơi!
    Không có tiếng đáp. Chị réo:
    - Ơ ơi... Gái... Cha đẻ mẹ con chết giẫm, ngã xuống ao chuôm rồi!
    Đương ngâm nga, bị có người làm rầm rĩ, hỏng mất thú, Duyện nói chõ ra:
    - Làm cái gì mà nhắng lên thế! Có im đi không!
    Chị không im. Chị nói thêm:
    - Người ta gọi nó mà cũng cấm hả?
    Chưa thôi, chị lại đay:
    - Nằm chỏng lên đấy, hát với hỏng, được tích sự gì!

    Cái chỗ này mới là cái tức. Ra ý mỉa mai anh không đi làm bữa nay, vô tích sự đấy. Này,
    trời! Thực con đàn bà kia ăn nói những điều phụ công phụ của quá đỗi. Cả năm anh đi làm
    quần quật. Họa có ngày người ta làm hết việc, mới được nghỉ như hôm nay. Rỗi rãi thì anh
    nằm nghêu ngao một tí chứ sao. Nó láo quá. Anh bèn quát:
    - Tao bảo cho con què biết rằng hai cái bàn tay này mà rời việc ra độ mươi bữa thì mẹ
    con nhà chúng mày rã họng ra! Đừng có...
    Anh cũng không biết “đừng có” thế nào nữa. Anh im. Chị Duyện đáp:
    - Người ta làm lắm thì người ta ăn nhiều chứ. Đây què thì đấy cũng làm sao. Thử sờ lên
    gáy mà xem.
    Thế là hai người chua ngoa nói cạnh nhau. Chị Duyện vốn có tật chân bên phải từ thuở
    lọt lòng. Đã mang tật, lại nhà nghèo, nên ba mươi tuổi chị mới lấy chồng. Mà chồng cũng
    chẳng ra hồn chồng. Anh Duyện nguyên là người ở đâu đến ngụ cư. Ngụ cư đi làm mướn,
    chứ cũng chẳng danh giá gì. Khi anh gặp chị, thì đôi bên đã là cảnh xế muộn chiều rồi, cho
    nên cũng dễ dãi mà lấy nhau.
    Và họ sinh con đẻ cái cũng thực là dễ dãi. Hai năm một, ba năm đôi, thấm thoắt mà đã
    ríu rít được ba đứa. Con Gái, con bé đầu lòng. Rồi thằng Cẳng, thằng Chân. Ấy là bỏ mất hai
    đốt về sau, nếu không còn lít nhít nữa kia. Thêm ba miệng con ăn, cũng đã là khổ lắm.
    Nhiều khi hai vợ chồng cãi nhau om sòm cũng chỉ vì vấn đề mấy đứa trẻ nhãi ăn không
    ngồi rồi đó. Con Gái nhớn đã biết, nhiều lần cha mẹ cãi nhau, nó ngồi khóc thút thít. Thằng
    Cẳng thì dắt thằng Chân xúm lại xem.
    Bữa nay hai vợ chồng cãi nhau, trong lúc lũ trẻ đi chơi vắng. Nhưng đến lúc cơn bão cãi
    nhau đương nổi hăng, chúng ở đâu lù lù dẫn nhau về. Con Gái cõng thằng Chân. Thằng bé
    ngất ngưởng ngủ, ngoẹo một bên đầu, rãi và nước mũi chảy lòng thòng.
    Thằng Cẳng chập chững đi sau lưng chị. Nó giả cách đương làm quan. Nó cầm cái roi
    phết đen đét vào cánh tay chị Gái và chửi rầm rĩ. Nhưng vào đến trong sân, nghe tiếng bố
    mẹ nói to, Gái đứng yên mà Cẳng thì tưng hửng. Chỉ có thằng Chân vẫn ngủ khò khè. Lúc
    ấy, cáu quá, anh Duyện nói nặng vợ một câu.
    Anh vừa nói xong, người vợ trông thấy lũ con dẫn nhau về, chị lu loa:
    - Ấy đấy, chúng mày về mà nghe bố chúng mày chửi tao.

    Cáu, anh Duyện văng:
    - Ừ, ông chửi cha con què đấy.
    Lập tức, mụ Duyện ôm mặt, khóc ti tỉ. Rồi mụ kể lể. Nhưng không phải kể lể với chồng
    và ba đứa con, mà kể lể nỉ non với cái bức vách trước mặt:
    - Ối thiên địa giời đất ơi! Ới cha ơi! Ới mẹ ơi! Tôi ăn ở với người ta chẳng gì cũng năm
    bảy mặt con, con sống có con chết có, mà nỡ nào người ta réo ông cha tôi lên. Cái thân tôi
    cực nhục trăm đường. Tôi buộc bụng nuôi con... hu... hu...
    - Mày đẻ lắm thì mày nuôi nhiều...
    - Ối ông cả bà nhớn ơi!... A, bấy lâu tôi nằm với... chó đấy a...
    Anh Duyện đùng đùng chạy ra:
    - Chó này!
    Nhưng anh chưa thụi, vợ anh đã ngã lăn kềnh, tay chân múa đành đạch, rền rĩ:
    - Đánh chết tôi đi! Cứ đánh chết tôi đi!
    Hai đứa con thấy bố làm dữ, sợ quá ôm díu lấy nhau, khóc inh ỏi. Nằm trên vai chị, bị
    thức giấc, thằng Chân, cũng bật khóc theo.
    Cả một góc xóm vắng bỗng vang tiếng khóc. Những con chó nằm rỗi chẳng biết chuyện
    gì cũng hóng mõm cắn xuống. Anh Duyện tức lắm rồi. Cơn nóng kéo đến đầu anh. Những
    chiếc gân xanh ở xung quanh trán và cổ nổi đũa lên. Giậm hai chân bạch bạch, anh quát:
    - Ông giết chết cả lũ! Ông giết chết cả lũ chúng mày rồi ông đâm cổ ông sau. Những của
    nợ kia, ông nhất quyết xử chúng mày trước, rồi đến con mẹ chúng mày.
    Những của nợ ấy khiếp vía, bíu nhau chạy. Chị Duyện cũng lật đật trở dậy, ôm váy lạch
    đạch ra ngõ.
    Duyện quay vào bếp, tìm được con dao phay, hồng hộc chạy ra sân đã không còn ai. Anh
    quẳng con dao “choeng” một tiếng xuống đất.
    - Từ giờ đến chiều, ông bắt được đứa nào thì ông giết chết tươi. Ối giời ơi! Chúng mày

    làm khổ ông. Ông mà đến nỗi thân tàn ma dại thế này cũng vì chúng mày. Chứ ông đâu
    đến nỗi.
    Ngoài ngõ có tiếng nheo nhéo đáp vào:
    - Nào tôi ăn tàn phá hoại gì của ai. Nào tôi bòn rút của chìm của nổi gì của ai. Một nhời
    nói một đọi máu, ăn nói còn có giời đất, có quỷ thần hai vai chứ.
    Thế này thì anh Duyện uất đến chết được. Nó cứ núp ngoài kia mà đối vào từng tiếng.
    Anh đuổi, nó lại chạy. Anh uất quá. Uất run mười đầu ngón tay bần bật. Anh phải đập một
    cái gì cho đã. Trong nhà chẳng có thứ gì khả dĩ đập được. Cái giường, cái án thư, cái cột.
    Toàn những đồ đau tay. Có con dao, thì anh đã đập lên đập xuống nhiều bận rồi.
    Ngoài cửa, mụ lắm điều lại la trời, la đất. Trời ở đâu mà la. Đất thị giẫm dưới chân đó.
    Kêu lắm mỏi miệng. Nhưng mà nó nói chọc dao vào óc anh. Vụt một ý, anh Duyện bỗng
    kêu lớn:
    - À, mày đã khỏe to họng, ông đốt nhà cho xem.
    - Anh đốt nhà thì hàng xóm bắt vạ anh.
    - Thì ông đi ngồi tù cho chúng mày đi ăn mày cả lượt.
    Mụ vợ đứng ngoài bờ rào, ngó thấy chồng hăm hở, hục hặc đi tìm lửa, vội kêu chóe:
    - Ối ông cả bà nhớn ơi! Nó đốt nhà... Thằng Duyện nó đốt nhà... Nó...
    Chẳng có ông cả bà nhớn nào chạy đến. Ai cũng đi làm chưa về, cửa ngõ đều đóng trở ra.
    Nhưng rồi loanh quanh mãi vẫn chưa thấy anh Duyện đốt được nhà.
    Thì ra, nhà không có một chút lửa. Mỗi bận thổi cơm cái Gái vẫn phải ra tận đầu xóm
    xin lửa. Và tối thì mọi người trong nhà đi ngủ cùng với mặt trời, không cần đèn. Biết vậy,
    chị Duyện yên trí, lại sắp hờ trời hờ đất. Xong nào đã thôi.
    - Mày tưởng ông sợ à? Ông đi xin lửa cho mà xem.
    Có lẽ anh toan chạy đi xin lửa thực. Và chị vợ cũng sửa soạn kêu nữa.
    Nhưng trên không trung, từ ban nãy, ông trời bao la đương đau bụng, mặt ông xám xịt
    lại. Bụng ông sôi ục ục, réo róc róc. Rồi bỗng nổi gió giật, lạnh ngắt. Sau cùng đổ xuống một

    trận mưa lớn.
    *
    *

    *

    Bấy giờ là đầu mùa hè. Trời ít mưa. Nhưng đã có trận nào thì mưa rõ cho ra chuyện.
    Trận mưa đó thực to. Nước xối xuống rào rào, trắng xóa. Ở những vườn chuối, nước giội
    lùng bùng như trống đánh. Từng cơn gió chạy dài, rít lên, đập đùng đùng. Trên những
    mảnh sân thấp nước ngập lưng thềm. Được độ một lúc lâu, mưa dần dần ngớt. Những đám
    mây nước tản mỏng bay nhanh như biến. Mặt trời lại ló ra. Trời đất sáng ngời. Màu lá cây
    xanh mướt. Những con chim sáo sậu nhanh nhẩu bay linh tinh, hót từng hồi véo von. Mưa
    tạnh.
    Bấy giờ khắp làng bày ra một cảnh lạ mắt. Ở các ngõ lố nhố chạy ra từng đám người. Đàn
    ông thì cởi trần trùng trục, đánh chiếc khố đơn. Đàn bà phong phanh cái yếm, đội sùm sụp
    chiếc nón. Còn trẻ con thì trần truồng như những viên đá cuội. Người ta chạy đổ xô đến các
    ngách cống, các bờ ruộng và các luống vườn. Tay mỗi người cầm một cái giỏ. Họ chen nhau,
    chạy tới tấp.
    Vì trời vừa mưa xong. Ở những mặt sân đất, sôi bong bóng. Trong các lỗ ngập nước, giun
    quằn quại tòi lên. Trong các bụi cây tối và ướt, có con giun sâu nhoi lên, chúng ra kiếm ăn.
    Và người ta cũng kéo đi bắt nhái, bắt chẫu kiếm cái cho người ăn.
    Không hẹn, mà cha, con, chồng, vợ nhà Duyện cũng gặp nhau trong đám đông đi bắt
    nhái bắt chẫu này. Mưa vừa tạnh. Chị Duyện chẳng biết trú ở đâu, đã xon xon chạy về lấy
    giỏ. Thì chị đã thấy khuyết hai cái giỏ treo trên đầu bếp. Thằng Chân và thằng Cẳng đã được
    chị nó nhốt cẩn thận vào gầm phản, bốn bề chắn gỗ kín đáo. Hai đứa trẻ loanh quanh cứ bò
    lấp ló thò đầu ra như hai con chó con. Chị và bố chúng đi bắt nhái. Anh Duyện đã hết giận
    vợ, để bụng nghĩ đến bữa cơm chiều nhiều hơn. Bữa cơm nhà có cái thịt nhái nướng thơm
    phức chấm muối ớt, nhai giòn rau ráu, ngon tuyệt.
    Chị Duyện cũng vác giỏ chạy. Người ta đã đổ ra nhiều quá, không bắt mau, hết mất. Chị
    gặp chồng. Cái thằng phải gió ấy cũng chịu khó vồ nhái ra dáng. Mặt nó không sưng sỉa lên
    nữa. Ấy vậy mà lúc nãy nó đã hùng hổ những giết con, giết vợ, đốt nhà.

    Chị Duyện gặp cái Gái. Nó giơ giỏ lên khoe với u. Cái giỏ đã được lưng lửng. Trong giỏ,
    nhái xô nhau kêu oe oé. Con Gái nhe hai hàm răng cải mả đen xỉn, cười toét. Rồi nó lại lễ
    mễ vác giỏ xuống một vệ ao gần đấy. Trong khi mẹ nó tất tả ra miệt đầu đình.
    Gái rón rén bước. Nó vạch xem từng ngọn cỏ. Nhưng cây cỏ nước xanh om, vươn cao
    ngọn, lòa xòa cứa vào người, khiến nó ngứa ngáy khó chịu. Mỗi lần vồ được một chú nhái,
    nó bẻ gẫy hai chân sau, bỏ tót vào giỏ, nó lại cười tủm một mình. Nó lần theo vệ ao, khuất
    sau mấy rặng dứa dại lởm chởm. Đàn nhái nhảy lõm bõm xuống nước.
    *
    *

    *

    Cuộc bắt nhái trời mưa đã vãn. Ai nấy ra về. Anh Duyện xách giỏ về trước. Thứ hai đến
    chị Duyện. Thằng Chân và thằng Cẳng phải tù trong gầm phản, đương khóc be be. Chị
    Duyện đưa cái giỏ nhái của mình cho chồng rồi chạy lại dỡ gạch, lôi hai đứa con trong gầm
    phản ra. Chị nựng con cho chúng nín. Anh Duyện ngồi ngẩn ngơ nhìn hai giỏ nhái. Nét mặt
    anh đờ đẫn. Có lẽ anh đương tưởng tượng đến bữa nhắm thú vị chiều nay.
    Bỗng chị Duyện nói:
    - Này, con Gái chưa về nhỉ? Nhà đi gọi nó xem...
    Giọng chị ả dịu lại. Chính anh Duyện cũng không còn tưởng rằng lúc nãy mình vừa cãi
    nhau kịch liệt với vợ. Anh đứng dậy, đi ra ngõ. Vừa đi, anh vừa lẩm bẩm: “Tiên nhân con
    ranh, đi đâu thì chết rấp ở đấy”. Rồi anh gọi:
    - Ới Gái...!
    Ở trong sân, vợ anh nói với ra:
    - Nó đi về phía bắt cá rô rạch ao nhà ông Cả Tràng ấy. Đẻ mẹ con ranh con!
    Anh Duyện đi về phía bờ ao nhà ông Cả Tràng, về phía có nhiều cây dứa dại. Anh trông
    thấy cái Gái. Cái Gái nằm gục trên cỏ, hai tay ôm khư khư cái giỏ nhái. Lưng nó trần xám
    ngắt. Chân tay nó co queo lại. Người bố nhìn đứa con nằm chết, rú lên một tiếng quái gở.
    Tuy cuống lắm, nhưng anh cũng còn nhìn thấy ở ngay bên vệ ao, trên lớp bùn phẳng mới
    nguyên có một lốt rắn bò dài như cái sào nứa còn hằn lại.

    Duyện cúi ẵm xác con. Anh chợt nghĩ bấy lâu nay nó ở trong cửa vợ chồng anh, cực khổ
    trăm đường. Người nó có bao nhiêu xương sườn, giơ hết cả ra. Thương ơi, bây giờ nó bỏ đi.
    Hai hàng nước mắt rỏ ròng ròng. Anh ghé vai, xốc con lên. Xác con vẫn còn ấm nóng, anh
    chạy về.
    Tháng Mười hai 1942.

    Lụa
    I.
    Tháng tám, tháng Chín, cho đến Tết Nguyên đán, tháng của làng xóm những đám sêu
    hỏi, cưới xin.
    Bây giờ đương vào giữa tháng Chín. Cốm xanh ngăn ngắt, mềm mát lòng bàn tay. Còn
    hồng thì những quả hồng chín đỏ chon chót. Trong làng, đầu xóm này lạch tạch bánh pháo,
    cuối xóm kia một đám người áo the, thắt lưng lụa đỏ, đi từng dẫy, đội mâm cau, mâm hồng.
    Trẻ con, đàn bà, người lớn, ông già lũ lượt ồn ào rủ nhau đi ăn cỗ.
    Cuối xóm Giếng có một đám chạm ngõ. Chạm ngõ, nghĩa cũng như là gật đầu. Đây là lễ
    chạm ngõ cô Lụa, con ông hương Rền lấy con trai ông phó An bên xóm Đình. Nhà ông phó
    An đã sang một cành cau ba chục quả thật tốt, với hai chai rượu. Chắc cũng chỉ xin vài ba
    hôm nữa thì đến đám hỏi. Bởi bên nhà ông phó An đã rậm rịch đi mua dưa cải và dạm mua
    lợn.
    Nhưng cô Lụa không bằng lòng lấy con trai ông phó An. Cô nhất định rồi. Chẳng phải
    bướng, nhưng cô không thể lấy chồng một cách ép uổng như vậy, cũng không chê bai gì ai,
    mà cô không ưa thằng đó. Cô phụng phịu. Cô ậm ừ. Cô khóc lóc.
    Song ông bà hương Rền coi thường, không để ý, cứ cho chạm ngõ. Và cứ cho người ta
    định ngày hỏi rõ ràng. Bà hương vừa nhai trầu vừa cười:
    - Ồi, con gái mới nhớn, đi lấy chồng, cô nào chẳng khóc tỉ ti.
    Cô Lụa càng nỉ non khóc lóc. Nhưng nước mắt không đủ cản được những lo liệu về việc
    vui mừng của cô. Chợt một hôm, người nhà ông phó An đến chạm ngõ. Cô ôm mặt nức nở:
    - Tôi không lấy thằng ấy đâu! Tôi không lấy thằng ấy đâu!
    Ông hương Rền phát xẵng một cách vui vẻ:
    - Không lấy nó thì lấy chó à!
    - Đừng có cho người ta chạm ngõ!

    - Tao bằng lòng với người ta rồi. Hai mươi hai này.
    Cô Lụa khóc nấc lên.
    Ông hương trợn mắt, trợn râu, hè:
    - Im!
    Cô con gái thút thít im ngay.
    Nhưng lúc đứng một mình với mẹ, cô lại làm già:
    - Thày u mà ép con thì con cắn lưỡi mà chết, con đâm đầu xuống ao, xuống chuôm con
    chết.
    Bà hương dịu dàng:
    - Con ơi! Đừng có nghĩ xằng thế. Cha mẹ sinh ra con.
    - Con đi đâu thì con đi.
    - Xà, chớ có nói nhảm, làng nước người ta mỉa mai chê cười.
    Cô Lụa quả quyết:
    - U liệu thế nào thì u liệu. Con đã nhất định không lấy thằng ấy.
    - Thế mày định lấy ai? Lấy Giời nhé? Con ơi! Con dại lắm. Nhà nó cũng là nhà có tai
    mắt trong làng, con biết đâu được...
    - U đừng nói nữa. Giời đất ơi! Hu hu hu...
    Cô Lụa nhất định không lấy con ông phó An. Nhưng ông bà hương Rền vẫn không để ý
    mấy tới sự nhất định của cô con gái bướng bỉnh. Bởi vậy hôm hai mươi hai, nhà người ta cứ
    dẫn cau dẫn rượu đến chạm ngõ tự nhiên.
    Thấy việc “lấy con lão phó An” chắc như đinh đóng cột rồi, cô Lụa lo quá. Nhưng cô vẫn
    quả quyết không lấy thằng con lão phó An. Mà ác nỗi, cha mẹ cô khăng khăng một mực.
    Hay là cha mẹ cô biết. Cha mẹ cô cho là con gái quả quyết giả vờ, dọa suông đấy thôi. Ôi
    chao, khó nghĩ quá.

    Đi chạm ngõ rồi, Lụa không khóc, không dỗi cơm, không giả vờ cách ốm nằm liệt trong
    buồng nữa. Chẳng phải cô đã bằng lòng. Chỉ bởi cô nghĩ rằng phản đối như thế mãi không
    thể ăn thua.
    Cô đã nghĩ ra một mẹo, tuy thẹn nhưng phải trơ trẽn ghê lắm. Cô không dùng dằng, trơ
    mấy cũng đành.
    Chiều hôm đó, trời đã sâm sẩm. Không mưa không nắng mà cô Lụa cũng đội nón sùm
    sụp, đi sang xóm Đình. Đã nhọ mặt người, đường cái vắng, không có ai. Ngõ nhà ông phó
    An nghe có tiếng gọi ơi ới. Đàn chó nhâu nhâu chạy ra sủa. Cô Lụa theo người nhà ra đánh
    chó. Đi thẳng vào trong sân. Phải, cô Lụa đó. Bà phó đi vắng, ông phó An vừa ăn cơm xong,
    đương ngồi đầu hè xỉa răng, cô Lụa chạy vào “lạy ông” rồi nói luôn một câu rất trơn tru:
    - Lạy ông, cháu sang để thưa với ông rằng cái số cháu không được về hầu hạ cửa ông cửa
    bà thì xin ông bà đừng cho miếng giầu miếng cau làm gì...
    Ông phó An gắt:
    - À cô chê con tôi chắc?
    - Dạ, cháu không dám, là cái số cháu thế, thì dám xin đưa gửi lại ông bà số tiền giầu
    rượu chạm ngõ hôm qua.
    Lụa chìa ba đồng bạc ra.
    Nhưng ông phó An xua tay:
    - Này, tôi bảo thật. Cô về ngay đi. Tôi không nói câu chuyện này với trẻ con. Đã có ông
    hương bà hương bên ấy.
    - Cháu xin ông là hết. Cháu gửi.
    Lụa đặt ba đồng bạc xuống thềm hè. Lụa chào ông phó An. Rồi Lụa thoăn thoắt ra ngõ.
    Câu chuyện bí mật không có hai cánh như ruồi, nhưng cũng bay từ chỗ nọ ra chỗ kia rất
    mau. Hôm sau, chuyện “cái Lụa đem trả tiền giầu cau chạm ngõ của nhà lão phó An” tràn
    khắp các ngõ xóm.
    Đằng ông phó An đưa tin đến nhà Lụa một câu mát mẻ:

    - Ông bà khéo dạy con cái quá. Cô ấy thực là ngoan.
    Ông hương Rền trần tình với người mối:
    - Sinh con ai nỡ lòng. Nó làm quái ra như vậy chứ chúng tôi chẳng đã nhận nhời đằng ấy
    là gì đấy.
    Còn bên nhà ông phó An, tuy vậy, vẫn nằn nì nói lại định hỏi Lụa cho bằng được. Nhưng
    đằng ông hương Rền biết họ cố hỏi để lấy người về hành hạ cho đỡ tức, nên không dám
    nhận lời.
    Cuộc nhân duyên ép uổng thế là tan.
    Người trong lối xóm bàn tán:
    - Cái Lụa bạo thực, dám lại tận nhà giả tiền giầu rượu.
    - Ai có thừa đồ mà lấy thằng con lão phó An, nó cám hấp bỏ mẹ.
    - Mấy lị có người xui chứ. Tôi biết.
    - Ai xui?
    - Cái Lụa phải lòng thằng Nguyên, mê nhau như ăn phải bùa. Nó xui gì mà chẳng nghe.
    - Có nhẽ, nom thằng Nguyên có mã người hơn thằng này. Nhưng con gái thế thì đoảng
    rồi.
    II.
    Buổi trưa, đường xóm vắng, í ới mấy đứa trẻ vừa nhảy vô, vừa la.
    Ngoài đồng vắng, lúa cao ngập đầu người, đương giỗ chín. Những bông lúa vàng hoe đeo
    nặng bông trĩu cong. Mấy con ri đá kêu kéc kéc trong ngàn lúa, chuyền loi choi. Nhưng khi
    đàn chim ri chuyền đến một góc ruộng kế bên bờ tre, thì thấy hai cái đầu người nhấp nhô.
    Hốt hoảng, cả đàn chim ri nhớn nhác vù lên ngọn tre.
    Đó là Lụa và Nguyên. Hai người ngồi chéo khoeo, luồn hai tay dưới đầu gối, mắt đờ đẫn,
    nhìn bâng quơ. Lại bứt mấy ngọn cỏ. Chừng như đã lâu, đôi bên chưa nói với nhau một câu
    nào. Sự im lặng ngẩn ngơ trên những nét mặt băn khoăn. Lại có tiếng lạt sạt nho nhỏ của

    con chim ri đá ró ráy trong tụm lúa sau lưng.
    Mãi sau, như không thể để mẩu câu chuyện dở dang, Lụa nói:
    - Em đã hết lòng với anh. Nếu không, sao em đến tận nhà người ta mà giả giầu cau
    người ta.
    Nguyên ngắt lời:
    - Không, tôi có dám trách em lấy chồng đâu. Chúng mình chết thì cùng chết chứ gì.
    Chết với nhau cũng sướng. Thiên hạ chán vạn ra đấy.
    Lụa buồn bã:
    - Tính chuyện liều làm sao được!
    Nguyên hỏi dồn:
    - Thế chúng mình không thể lấy nhau được ư?
    Lụa lấy dải yếm lên lau mắt:
    - Em biết làm thế nào?
    Lại im. Không ai nói với ai một lời. Gió dạt dào trong ngàn tre. Con chim sáo sậu đậu
    trên ngọn cây hót véo von.
    Lụa giật mình:
    - Ồ, sáo sậ...
     
    Gửi ý kiến

    💕💕 “Món quà tuyệt vời nhất chính là niềm đam mê với việc đọc sách. Nó rẻ, nó an ủi, nó làm sao lãng, nó kích thích, nó mang đến cho bạn những tri thức về thế giới và trải nghiệm về những lĩnh vực khác nhau. Nó chính là sự khai sáng tinh thần.”- Elizabeth HardwickM💕💕